Latest Post


     Nói chung, cổ phiếu ưu đãi không được quyền bầu cử, ứng cử vào Ban quản trị, Ban kiểm soát công ty. Nhưng thông thường nếu công ty không có khả năng trả lợi tức cho cổ phiếu ưu đãi trong một số năm liên tục nhất định, thì những cổ đông có cổ phiếu ưu đãi có quyền được bầu một số người vào Hội đồng quản trị.
    Phần lớn các cổ phiếu ưu đãi là thuộc loại không tham dự chia phần.

Đặc điểm nổi bật của cổ phiếu ưu đãi

    Cổ phiếu ưu đãi có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu thường. Là loại cổ phiếu cho phép chủ sở hữu được chuyển đổi thành cổ phiếu thường trong một thời gian nhất định, và theo một tỷ giá chuyển đổi nhất định (đã ghi rõ trong cổ phiếu).
    Ví dụ, Công ty XYZ phát hành loại cổ phiếu có khả năng chuyển đổi mệnh giá 500.000đ, sẽ được chuyển đổi thành 5 cổ phiếu thường với mệnh giá l00.000đ vào bất cứ lúc nào trong năm tới. Như vậy việc chuyển đổi này sẽ chẳng có lợi cho chủ sở hữu về mặt tài chính, trừ khi giá thị trường của cổ phiếu thông thường cao hơn mệnh giá. Giả sử mệnh giá cổ phiếu thông thường là 100.000đ, giá thị trường 120.000đ, thì sở hữu chủ sẽ được lợi 20.000đ X 5 = l00.000đ. Trong trường hợp ngược lại, giá cổ phiếu thông thường thấp hơn mệnh giá (ví dụ 90.000 đ) thì sở hữu chủ sẽ không thực hiện việc chuyển đổi.
    Giá cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi được trên thị trường cũng dao động khá mạnh, vì nó gắn liền với cổ phiếu thông thường. Từ sau những năm 1950 loại cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi được phát triển mạnh. Vì đây là loại cổ phiếu vừa dành cho những người thích phiêu lưu, nhưng cũng vừa phù hợp với những người chấp nhận lợi tức ổn định.
    Cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại. Còn được gọi là cổ phiếu ưu đãi có thể bồi hoàn. Là loại cổ phiếu mà khi phát hành có điều khoản quy định công ty có thể hoàn lại vốn cổ phần, cộng thêm một khoản thưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mệnh giá cho sở hữu chủ.
    Một công ty phát hành cổ phiếu ưu đãi trong trường hợp cần gấp một số vốn lớn để giải quyết một công việc cụ thể, thường là để mua lại công ty khác nhỏ hơn. Cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại thường áp dụng trong trường hợp công ty cần một số vốn khẩn cấp trong một thời gian ngắn, do đó phải định mức lãi cổ phần cao. Chuộc lại một số cổ phiếu ưu đãi có lãi suất cao này để thăng bằng với những cổ phiếu ưu đãi có lãi suất thấp hơn, nhằm lành mạnh hóa tình hình tài chính công ty.


     Khác với cổ phiếu, là một chứng khoán vốn, cổ đông là người góp vốn vào công ty, trở thành chủ sở hữu công ty, thì trái phiếu là một chứng khoán nợ, người nắm giữ trái phiếu là chủ nợ của đơn vị phát hành.
     Đơn vị phát hành trái phiếu là các công ty thuộc các thành phần kinh tế, và Chính phủ, chính quyền địa phương.

Khái quát về trái phiếu

     Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thông thường được hưởng quyền lợi về tài chính thông qua kết qủa kinh doanh có lãi của công ty, và qua việc bán lại cổ phiếu trên thị trường khi giá của cổ phiếu cao hơn mệnh giá. Nhìn chung người mua trái phiếu, hàng năm hoặc hàng quý họ sẽ được trả một số tiền lời theo mức lãi suất đã định, và khi đáo hạn họ sẽ nhận được tiền vốn gốc (mệnh giá trái phiếu). Khác với các cố đông, là người được nhận số cổ tức một cách không xác định, hoàn toàn phụ thuộc vào kết quá kinh doanh của công ty, thậm chí có thể mất luôn cả vốn cổ phần, nếu công ty làm ăn thua lỗ phá sản, thì người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) được hưởng số tiền lãi đã được xác định. Nhưng sự lạm phát, sự thay đổi lái suất tín dụng (tăng) cũng có thể làm giảm giá trái phiếu trên thị trường.
     Xét về hình thức phát hành trái phiếu có hai loại: trái phiếu vô danh và trái phiếu ký danh.
     Trái phiếu vô danh là loại không ghi tên sở hữu chủ trên tờ trái phiếu cũng như trong sổ công ty phát hành. Trái phiếu ký danh có ghi tên. Mỗi tờ trái phiếu đều có cuống phiếu đó là các ô trả lãi, sở hữu chủ cắt một ô trả lãi gởi tiền đến ngân hàng hoặc một công ty chứng khoán được ủy thác để nhận tiền lãi.
Trái chủ có thể giữ trái phiếu cho tới khi đáo hạn để nhận lại mệnh giá, hoặc có thể bán nó trên TTCK (thứ cấp) trước khi đáo hạn. Trong trường hợp này trái chủ sẽ nhận được giá trị theo giá thị trường; có thể cao hơn, bằng, hoặc thấp hơn mệnh giá.
     Giá trái phiếu là giá mua bán. Giá trái phiếu dược còng bố là tỷ lệ phần trăm của mệnh giá.
     Ví dụ, khi công bố trái phiếu là 100, có nghĩa là giá mua – bán trái phiếu là 100% của mệnh giá (nếu mệnh giá trái phiếu là 1000 thì giá trái phiếu sê là 1000đ, nếu mệnh giá trái phiếu là 100 thì giá trái phiếu. Giá 90 có nghĩa là giá trái phiếu là 90% của mệnh giá. Giả sử mệnh giá trái phiếu là l000đ thìgiá muabán trái phiếu sẽ là 900đ. Giá trái phiếu nhỏ hơn mệnh giá được gọi là giá chiết khấu. Giá 110, nghĩa là 110% của mệnh giá. Nếu mệnh giá là l000đ thì giá mua bán sẽ là l.l00đ. Trong trường hợp này gọi là giá cao.
     Mỗi lần giá tăng hoặc giảm 1% dược hiểu là 1 điểm. Nếu giá trái phiếu thay đổi từ 90 đến 91 tức là tăng 1 điểm.
     Như vậy khi lãi suất thị trường tăng thì giá trái phiếu sẽ giảm, và ngược lại. Tuy nhiên, công thức tính toán giá mua bán này chỉlà tương đối, vì trong thực tế không phải khi lãi suất thị trường tăng (hoặc giảm) bao nhiêu phần trăm thì giá trái phiếu cũng sẽ giảm (hoặc tăng) tương ứng. Ở ví dụ trên lãi suất thị trường tâng 2% thì giá trái phiếu có mệnh giá 100 sẽ xoay quanh con số 80. Nghĩa là có thể cao hơn hoặc thấp hơn 80.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: giao trinh quan tri tai chinh, thi truong tai chinh

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.